Những ngày sau hết của Đức Cha Allys

4. 1. Hưu dưỡng và những ngày sau hết

Sau những năm tháng dâng hiến phục vụ, Đức Cha Allys già yếu xin Tòa Thánh nghỉ hưu.

Sức khỏe Đức Cha càng ngày càng yếu, thân hình mảnh khảnh, nhưng nụ cười luôn nở trên môi. Con mắt ngài mờ đi rồi mù hẳn. Đây là một thử thách lớn đối với ngài. Nhưng ngài chấp nhận cách dũng cảm, vui tươi nhẹ nhàng.

Năm 1930, được Tòa Thánh ban phép, ngài chọn Giám mục Phó là Đức Cha Chabanon. Năm 1931, ngài từ nhiệm vì mắt đã mù hoàn toàn.

Đức Cha già Allys tịnh dưỡng trong một nhà ngói nhỏ, cũng là dinh giám mục lúc đang coi sóc địa phận. Trong khoảng mấy năm dần đui tối, nhiều lần phải nhọc mệt, song chẳng khi nào phải liệt nằm dưỡng một đôi ngày. Ngài hằng chuyên bề nguyện gẫm, nhờ người giúp đỡ đưa đến nhà thờ chầu lễ, rước lễ, mỗi ngày hai lần đến chầu Mình Thánh Chúa một hai giờ, chẳng hề bỏ thói quen ấy khi nào.

Người năng gặp khách tây nam đạo đời, nhất là các thầy cả, trí nhớ sáng suốt cho đến phút sau hết tắt hơi; vui vẻ chuyện trò, dạy vẽ nói phô những điều từng trải mình đã nghe thấy. Người có nhơn đức chịu khó rất lạ, nhiều lần trong mình mệt mỏi, mà trí nhớ điều nọ, tưởng điều kia thì cực lực tâm thần, bởi lòng mến Chúa thương người, song mặt mũi cũng cứ tươi cười: khi ai đến viếng thăm, thì chẳng hề từ chối. Vừa đầu tháng 4 năm nay (1936), trong mình chẳng thấy đau chi, song chỉ là mang lấy cái bệnh già, vì năm nay ngài đã 84 tuổi, khí, huyết suy mòn lần lần, con ma chết đã đến gần với ngài. Mồng 9 tháng 4 nhằm thứ Năm Tuần Thánh, ngài phải một cơn sốt, lại thêm thời khí chẳng lành, mấy ngày đó ở Huế trời nóng, cơn giông làm cho ai nấy dầu mạnh cũng phải khó chịu. Người phải nằm liệt giường, có lúc bị mê mẩn tâm trí, trên đầu khó chịu quá, các bộ máy trong mình đều chuyển. Nhằm là ngày lễ Truyền phép chầu dầu, các Cha Tây Nam tựu đến nhà chung đông đảo. Đức Cha Chabanon đến thấy cơn sốt Đức Cha già Lý ngặt mình, thì xin Đức Cha già chịu phép xức dầu, trước mặt nhiều Cha Tây Nam, cũng đặng hơn 30 đấng. Chính Đức Cha Chabanon làm phép xức dầu thánh cho người. Thật là gương nhân đức sốt sắng họa hiếm, ai có mặt cũng phải động lòng, khi thấy Đức Cha già dầu mệt hết sức, hơi thở muốn nghẹt, song trí rất tỉnh táo, giơ tay làm Dấu thánh giá và đấm ngực theo kinh cáo mình, miệng thưa lại các lời đọc trong sách các phép, ngó bộ dạng tỏ ra có đức tin lạ lùng, phú dâng mạng sống mình trong tay Chúa, xin Chúa tha thứ mọi tiền khiên. Nói tắt là người chịu phép xức dầu cách sốt sắng chẳng có tiếng mà tả ra cho đặng, làm cho mọi người đứng xung quanh phải cảm xúc lắm. Đoạn Đức Cha Chabanon xin Đức Cha làm phép lành cho mình và các Cha, tức thì ngài gắng giơ tay lên và đọc lớn tiếng: Benedicat vos omnes omnipotens Deus Pater et Filius et Spiritus sanctus, ngài đọc lớn tiếng Vos omnes và tiếng omnipotens Deus Pater, một cách có ý tứ xin Chúa quyền cả vô cùng ban phép lành cho Đức Cha và các Cha, xin Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần xuống phúc lành cho hết mọi người. Đoạn Đức Cha giơ tay ra, xin Đức Cha Giáo, các Cha, các cố, và mọi người tha các sự lỗi lầm cho Đức Cha, người nói rằng: “Tôi có làm cực phiền ai, làm mất lòng ai xin tha thứ cho tôi”.

Dầu mệt và yếu sức, song ngó tướng ngài diện tươi tắn, nói cách êm ái dễ thương lắm. Đức Cha Giáo và các Cha thấy ngài mệt thì xin phép đi ra để cho ngài nghỉ an. Đức Cha già cũng nói với chú giúp việc Phaolô Chuyên là kẻ giúp ngài từ ngày ngài làm Cha sở đến nay cũng đặng gần 35 năm, có lòng trung tín cùng chí thú với ngài mà rằng: “Ông Chuyên, tôi cũng xin ông tha sự lỗi cho tôi, vì nhiều lần tôi làm cực lòng ông”. Đức Cha khiêm nhượng lắm, ngài nói rằng: “Ông giúp tôi, tôi nhờ ông cả phần hồn phần xác”. Các lời ấy ngài lặp đi lặp lại cho đến gần giờ sau hết. Thật ông Chuyên đáng khen vì ông ấy giúp Đức Cha tận tình, nhất là những năm Đức Cha chẳng còn có con mắt thì ông ấy cứ đúng giờ khắc mà đưa Đức Cha đi nhà thờ, lo lắng cơm nước, cùng giữ của cải chút đỉnh người ta dâng cúng, cùng đồ đạc chẳng hề mất một mảy, lại chẳng hề thở than một lời năn nỉ nào hoặc vô phép với Đức Cha khi nào. Thật là một người phải có nhơn đức. Thế ngày nay Đức Cha lên thiên đàng chẳng quên ơn ông ấy, và Chúa thưởng công ông ấy chẳng sai.

Qua ngày 10 tháng 4, nhằm chiều ngày thứ sáu Chúa chịu nạn và ngày thứ bảy áp lễ Phục sinh, Đức Cha khá lại. Người còn nằm liệt, song mỗi ngày uống đặng hai lần, mỗi lần một tách sữa và một, hai bánh Biscuit nhỏ mềm, nên xem bệnh tình chưa phải nguy, ai đến thăm, ngài dầu nói ít mà cũng đối đáp. Các Cha ở xa xôi, các quý quan và ai nấy nghe tin Đức Cha đã chịu phép xức dầu thì đến kính viếng Đức Cha một phen sau hết giã từ, trước khi người sinh thì. Các Cha, các cố gần liên tiếp đến thăm, dầu chẳng dám làm phiền Đức Cha kẻo sợ ngài mệt, song có mặt các Cha luôn, nhất là Cha Trang và Cha Thục ngày nào cũng có mặt, hầu mỗi ngày hai buổi. Đức Cha Cẩn đặng tin Đức Cha già liệt nặng thì tức tốc vào chính chiều ngày áp lễ Phục sinh. Đức Cha Cẩn vào ôm Đức Cha già hôn mà khóc. Cả hai Cha con ôm nhau từ giã cùng an ủi nhau. Một bên dọn mình lên thiên đàng, một bên ở lại lo hành công việc mở Nước Chúa ở thế này, sau lên một nơi cùng nhau. Đức Cha Cẩn thấy bệnh tình Đức Cha già xem chưa phải gấp nên xin trở về Bùi Chu lo việc địa phận và xin đi phong chức tại Lạng Sơn như đã hứa.

Ngày 14 tháng 4, trước khi Đức Cha Cẩn lên xe tốc hành về Bắc, ngài đến từ giã thì Đức Cha nắm tay Đức Cha Cẩn hồi lâu mà nói: “Hôm nay tôi mệt lắm…có lẽ chết đêm nầy…” Đức Cha Cẩn động lòng quá, nên rán ở lại thêm một ngày nữa, song ngài thấy Đức Cha già cũng yên một mực, nên ngày 16, Đức Cha Cẩn xin từ giã ra Bắc, sau đặng tin ngặt nghèo thì sẽ trở vô Huế lại.

Ngày 18 và 19 tháng 4, xem diện mạo Đức Cha tươi tỉnh, mọi người tưởng Đức Cha khỏe lại, song những dấu mà người An Nam đoán kẻ gần sinh thì, thì Đức Cha đều tỏ ra mấy ngày trước khi chết: là Đức Cha tỉnh táo hơn thường, cách nói năng không phải người yếu liệt. Ngài đòi đỡ ngài dậy, nằm nơi ghế xem ra trông mình hồi dương lại, và muốn xuống đất nên đòi nằm ghế, song trong mình ngài thở ra mệt lắm. Hễ ai đến thăm, thì ngài than thở: “Tôi chịu đau đớn trong xác lắm!”. Chiều 19 là Chúa nhật, các Cha rảnh nên đến viếng đông hơn. Cố Chính Lemasle chiều theo ý các Cha và bổn đạo, đến xin Đức Cha cho chôn xác ngài trong nhà thờ, vì theo tờ trối: thì ngài định chôn tại đất thánh, trong lăng ngài đã làm cho các Cha bổn quốc Phủ Cam…Chiều ấy, Đức Cha nói chuyện mạnh mẽ và xin cố Chính nói lại với bổn đạo ngài cảm ơn, song sự ngài đã định thì xin cứ để vậy. Ngài xin đừng làm chi trọng thể việc đám xác ngài, ngài nói; “đã định một số tiền cho họ Phủ Cam thắp đèn xin lễ và cho dân đưa xác ngài đến phần mộ”. Cố Chính Lễ chẳng dám thêm lời cãi ý ngài. Lúc ấy Đức Cha thở ra mà nói: “Ngài đau đớn lắm cả và mình đều cực lực”. Cố Chính Lễ thưa lại với Đức Cha rằng: Đức Cha bằng lòng chịu khó mà lập công nghiệp cho Đức Cha và mọi người trong chúng con. Đức Cha trả lời lại: “Phải”. Dầu ngài phải cực lực song mặt mày chẳng nhăn nhó xem lòng vững đức chịu khó và cũng cứ trả lời một đôi tiếng cho kẻ đến viếng, như vừa khi cố Chính Lễ hầu chuyện thì có Cha Tân là thầy cả già cả hơn hết trong các Cha bổn quốc đến thăm, đi với Cha Sanh thì ngài cũng nhìn biết và cảm ơn. Dầu đau đớn trong xác bởi sự chết đến bắt ngài mà trí ý ngài vì lòng kính Chúa, nên cũng còn cứ nhắc đến sở nọ sở kia, Cha nầy, Cha khác đang phải lao đao cực khổ.

Có lần Cha Trang là nghĩa tử của Đức Cha đến thì ngài Bonjour, và nói: “Tôi thương mấy Cha lo họ đạo mới làm tông đồ mở Nước Chúa. Tôi có 4 học trò, tôi bằng lòng cả 4, là: Đức Cha Cẩn, đã làm Giám mục Bùi Chu rồi, Cha Thục nay mai tôi còn trông như vậy, còn Cha Úy, Cha Trang làm tông đồ cho dân ngoại. Ngài nói: Tôi chẳng quên Cha khi nào”. Cha Trang thưa lại: “Con dâng lễ Misa cho Đức Cha dọn mình chết lành, và dâng các sự khó nhọc con chịu với đạo mới, chầu nhưng cho Đức Cha bằng lòng chịu khó trong những ngày giờ sau hết đời Đức Cha”. Đức Cha rất khiêm nhường đáp lại: “Cha tốt lắm, Cha có công nghiệp hơn tôi nhiều lắm”. Cha Trang thưa rằng: “Lạy Đức Cha, Chúa lòng lành vô cùng sẽ thưởng công nghiệp vì cả đời Đức Cha lo làm sáng danh Chúa cùng cứu chầu nhưng nhiều lắm. Chúng con chỉ nhờ Đức Cha mà làm việc. Đức Cha đã làm nhiều việc sáng Danh Chúa, nên sau hết Chúa chẳng bỏ Đức Cha đâu”. Đức Cha đáp lại với Cha Trang cũng như nhiều Cha khác mà rằng: “Thôi đừng có nói đến các việc mình làm, mình chẳng có công gì; ấy là ơn Chúa giúp, tôi chỉ có chút công là qua An Nam đặng 61 năm mà thôi, nên đừng nói và không nên nói đến các điều ấy”. Đức Cha là người rất khiêm nhượng khi sống và đến giờ gần chết cũng chẳng hề khoe mình đã làm việc nọ việc kia. Trong các dịp hội chung với các Cha, thì người chỉ nói là nhờ các Cha Tây, Nam trong địa phận đã làm nên các sự chớ ngài thì chẳng có công gì sốt.

Cha Trang từ giã ra về thưa rằng: “Con xin làm lễ cho Đức Cha dọn mình lên thiên đàng”. Đức Cha cảm ơn lại tỏ lòng khiêm nhường hơn nữa: “Phải, mà Cha với tôi lên một lượt. Xin Cha nói với cố giữ việc, mai sớm đưa Mình Thánh cho tôi”. Chú giúp ngồi thưa rằng: “Lạy Đức Cha đừng lo, có con sẽ nhắc và tin trước cho cố giúp việc đưa Mình Thánh cho Đức Cha”. Đức Cha là kẻ có lòng mến Thánh Thể cách riêng, nên buổi sau cùng Đức Cha chịu lễ mỗi ngày cách sốt sắng quá lẽ, mọi người có mặt đều lấy làm đồng lòng. Một chốc, ngài hỏi Cha Trang còn đó hay là đã về? Tôi muốn xưng tội với Cha Darbon, là Cha giải tội thường ngày cho tôi. Tức thì chú giúp việc thưa lại rằng: “Bây giờ là 7 giờ tối, nếu Đức Cha muốn thì con đi mời”. Đức Cha rằng: “Thôi không cần phiền cố Darbon, Cha xưng tội với Cha Trang cũng đặng”. Đoạn ngài bảo kêu Cha Trang (khi ấy đang ở bên phòng ngoài). Cha Trang dạ rồi bước vô, Đức Cha rằng: “Cha hãy làm phước cho tôi”. Đoạn Đức Cha xưng tội một cách sốt sắng, Cha Trang phải cảm động sa nước mắt vì thấy Đức Cha là người thánh nhân đức giục lòng ăn năn tội cách chí thiết với Chúa mình.

Đấng thánh giám mục dọn mình chín chắn thể ấy, mà ta là kẻ có tội, là người tầm thường, thì phải làm sao lắm lắm mà ra trước Tòa Chúa? Đoạn Đức Cha cảm ơn từ giã, Cha Trang ra về, ngài còn dặn Cha về nói lại: “ai đến thăm cứ lên tiếng, tôi cảm ơn, lỗ tai tôi còn nghe rõ lắm”.

Từ đây Đức Cha Chabanon, cố Lemasle, Cha Etchebarne, giữ việc và cố Darbon là Cha giải tội, năng đến luôn luôn. Qua ngày 20 tháng 4, xem Đức Cha phải ngặt mình, cứ kêu khát xin nước luôn, nói mình khô, nhiều khi ngất, khó thở quá. Có lần ngài xin bỏ chút muối vào trong sữa, hoặc nước mà đổ cho ngài, ngài xin làm vậy chớ uống không đặng mấy muỗng cà phê, và thấy miệng ngài khó mở ra. Trông xem xác nặng trở trăn, ngón tay cũng cứ rờ mó bóp hai bên cánh tay, An Nam ta nói là mằn chiếu, cứ làm luôn, có lúc giang tay hình thánh giá. Vừa nghe ai vô, lên tiếng có các Cha kính viếng, thì ngài nói tiếng nhỏ nhỏ cảm ơn, mệt lắm, Cha không nói đặng. Nói vậy chứ lòng trí ngài suy nghĩ đến Chúa, năng kêu xin Đức Chúa Cha thương xót. Ai có mặt thấy cũng động lòng thương Đức Cha lắm, và trọng kính ngài như đấng thánh.

Đến ngày 22 tháng 4, trời bức sốt nồng nực, Đức Cha cũng phải ngặt mình hơn, xem chẳng cựa quậy đặng, sức mòn kém lần, hơi thở ngặt nghèo. Mà phước thay cho Đức Cha, chiều 22 rạng 23 lại có Đức Cha Thành (Marcou) ở Thanh Hóa vào viếng Đức Cha lần sau hết. Đức Cha Thành là bạn tri âm của Đức Cha già Allys. Chính Đức Cha Thành kể lại: người đã nhờ Đức Cha Allys hồi nhỏ, còn làm học trò tại trường truyền giáo Paris, Đức Cha Lý an ủi dẫn đàng cho Đức Cha Thành đi tu, cả hai đấng thương mến nhau thật tình và giúp đỡ nhau trong việc mở Nước Chúa, cả hai cùng làm giám mục hiển vang truyền giáo tại cõi Đông Dương. Ngày nay hai đấng lại gặp nhau trong giờ sau hết ở thế này.

Đức Cha già Allys nghe tiếng Đức Cha Thành thì xem diện mạo mừng lắm. Hai ông thánh đàm đạo với nhau mật thiết về cõi trường sinh nay mai sẽ đến. Đức Cha Allys cũng gượng mà nói song tiếng chẳng đặng rõ, miệng cũng ráng chúm chím cười như mọi khi. Một hồi lâu, Đức Cha Thành kiếu lui về phòng nghỉ. Khoảng 8, 9 giờ mai ngày 23 tháng 4 khỏi một chốc, khoảng 9 giờ rưỡi, Đức Cha già Allys trở mình cách thở ngặt nghèo giống tuồng hấp hối. Hai Cha con ông Chuyên, là kẻ giúp việc, chạy kêu Cha giữ việc khi ấy ở một bên, tin cho Đức Cha Giáo, Đức Cha Thành, Cha Lemasle, Cha Darbon và ít Cha khác, đến xem Đức Cha già đã gần qua đời, song đoán ngài cũng yên trí, các đấng kêu Chúa và đọc kinh theo sách lễ nhạc đưa linh hồn đến Tòa Chúa.

Mọi người cảm động rưng rưng nước mắt! Qua khoảng 11 giờ trưa thì Đức Cha thở hơi sau hết dịu dàng, rồi tắt hơi. Mọi sự trong linh hồn xem ra bình tịnh, linh hồn lên Tòa Chúa lòng lành thương xót đến Cha. Ấy là hết đời sống Đức Cha già Allys.

Nghe tin Đức Cha Allys qua đời, chí sĩ Phan Bội Châu bấy giờ bị giam lỏng ở Bến Ngự (Huế), là bạn của Đức Cha, có bài văn tế khóc Đức Cha, đăng trong báo Tiếng Dân ngày 25 tháng 5 năm 1936 với những lời bi thiết như sau[1]:

Gương đạo nghĩa vẫn soi lòng bác ái,

Múi tinh thần càng nhớ bậc tiên tri.

Thống duy! Đức Cha Lý xưa!

Sao chói trường canh

Đèn khêu thượng trí.

……………………………

Lòng yêu người nào kể trắng hay vàng,

xem họ Pháp Lan Tây chung cùng dòng Việt.

Nửa thế kỷ choảng vang chuông đạo Chúa,

mở miệng người câm, xoi tai người điếc,

những ước ao beo cọp hoá tường lân.

……………………………

Ư ngày nay nhắc tới ngày xưa,

tiếng ngọc vài lời, mùi thân ái còn say tới não.

Ai ngờ gần mới, bỗng chốc được tin:

Trên thiên đàng vội rước Ngài lên.

Giữa trần thế ai là Cha nữa?

……………………………

Nỗi cảm tình riêng cũng khóc thương thầm,

tưởng câu “thất nhĩ nhân hà”, nợ thay bạn xin chung lời điếu.

“Thốn tâm, thiên cổ” gọi rằng “tri tử giả ái”.

“Tứ hải nhất giai”, dám chắc “hữu cầu tắc ứng”.

[1] Trích trong “Phan Bội Châu toàn tập”, NXB Thuận Hóa, Huế, 1990, tập VI, trang 341-342.